Skip to content

Nên dùng “dạt” hay “giạt” / “dòng” hay “giòng”?

25/05/2010

Một bài viết khá hay của tác giả Trần Văn Tích, diễn đàn http://www.talawas.org/?p=17815

Vì tôi đầu têu ra chuyện nên dùng nhóm chữ “cộng đồng lưu vong” để chỉ một bộ phận tập thể đồng bào Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài thay vì gọi chung là “cộng đồng hải ngoại” nên đã có một số phản hồi thoạt đầu liên quan đến chữ “lưu vong” rồi chuyển qua “lưu lạc” để rồi đến cặp chữ “dạt/giạt”.

Theo một số quý vị “phản hồi gia” như Nguyễn Đình Đăng, Hoàng Ngọc-Tuấn thì viết dạt hay giạt cũng đều đúng. Ông Hoàng Ngọc-Tuấn còn trích dẫn tự điển của Viện Ngôn ngữ học. Phần tôi thì lại thấy dường như vấn đề chưa thể giải quyết gọn, nhẹ như vậy.

Giống như ông Hoàng Ngọc-Tuấn, tôi hiện có mấy cuốn tự vị, tự điển, từ điển đơn ngữ Việt-Việt. Vậy để bắt đầu, tôi xin dẫn các tự vị, tự điển, từ điển liên hệ.

Cuối thế kỷ XIX, năm 1895, Dictionnaire annamite-大南國音字彙 – Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, Tome I, A-L, ghi cả hai chữ dạt và giạt:

– “Dạt. n. Dan ra, để nới ra, không cho chụm lại. – ra. Bỏ ra, để nới ra. – củi. Kéo củi ra để cho xa nhau; bớt củi bớt lửa. Bỏ –. Bỏ ra không dùng.“ (n = chữ nôm).

– Giạt. n. Bị sóng gió đưa ra, hoặc tấp vào. – vào bờ. Tấp vào bờ. – ra. Đưa ra, bỏ ra, để riêng ra. Bạt –. Trôi tấp, hoặc đưa vào chỗ nào. Giợt –. Nước da không sậm, nhứt là bị nước làm cho lợt màu.”

Từ năm 1931, Việt Nam Tự điển do Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo đã gán cho hai chữ dạt/giạt hai nghĩa khác nhau: “Dạt: Thưa, giãn:Vải dạt, sợi dạt” và “Giạt: Bị sóng gió xô đẩy đi: Trời mưa giạt cả ao bèo. Thuyền bị sóng đánh giạt vào bờ. VĂN-LIỆU.- Hoa trôi, bèo giạt đã đành (K).” [(K) = Truyện Kiều].

Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, ấn bản 1977, không ghi chữ dạt, chỉ ghi chữ giạt: “GIẠT. – t. Bị xô vào một bên: Vải giạt; Bèogiạt.” (t. = tính từ).

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ấn bản 1994, ghi “dạt1 cv. giạt. đg. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên do một tác động nào đó. Thuyền bị sóng đánh dạt vào bờ. Chạy dạt về một phía. Đám đông dạt ra nhường lối cho xe đi.” và “dạt2 đg. Dãn thưa ra (thường nói về sợi của hàng dệt). Vải mới giặt vài lần đã dạt.” (cv. = cũng viết, đg. = động từ). Đối với chữ giạt, Từ điển Hoàng Phê ghi: “giạt1 x. dạt1 và “giạt2 x. dạt2. (x. = xem).

Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm, ấn bản 1999, ghi “dạt đgt. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên.Thuyền bị sóng dạt vào bờ.” (đgt = động từ) và “giạt tt. Xô vào một bên. Vải giạt sợi. Bèo giạt.” (tt. = tính từ).

Như vậy: 1) Các từ điển phát hành thời Pháp thuộc phân biệt dạt và giạt. 2) Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm hiểu chữ giạt giống nhau1; 3) Văn Tân không biết đến chữ dạt; 4) Hoàng Phê không phân biệt dạt/giạt, hai chữ viết cách nào cũng được.

Cả ba bộ từ điển vừa liệt kê đều do người miền Bắc biên soạn.

Tại miền Nam và trước năm 1975 có Việt-Nam Tự-điển do Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu biên soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính. Quyển Thượng A-L, ấn bản 1970, ghi “DẠT đt. Tải ra, banh rời ra, không để chồng-đống: Dạt củi, dạt đống cát // (R) tt. Thưa, lơi, không dày, không săn: Vải dạt, sợi dạt.” và “GIẠT tt. Tạt, lạc, trôi vất-vưởng, không phương-hướng: Thuyền giạt, bèo giạt hoa trôi.

Như vậy hai soạn giả miền Nam phân biệt rạch ròi giữa dạt và giạt: 1) về từ loại, dạt có thể là động từ mà cũng có thể là tính từ (đt, tt) còn giạt thì chỉ là tính từ mà thôi; 2) về ngữ nghĩa, dạt là tách rời ra còn giạt là trôi nổi. [(R) = nghĩa rộng].

Việt-ngữ Chánh-tả Tự-vị của Lê Ngọc Trụ ghi “Dạt (n) 1. nới ra; thưa mình : sợi –; vải –; 2. tãi ra, không cho chụm lại: – củi; 3. (tđ) dào-dạt; bạt” [(n) = tiếng nôm, tđ = tiếng đôi hoặc tiếng đệm] và “Giạt (n) 1. tạt, bị sóng gió đưa tạt đi : bạt giạt; trôi giạt. 2. con giạt sành cũng nói con “giọt sành”, con “sạt sành”. 3. (tđ) giợt-giạt.”

Như vậy Lê Ngọc Trụ chú giải thêm chi tiết theo đó cả hai chữ dạt/giạt đều là chữ Nôm nhưng về nội hàm ngữ nghĩa của hai chữ thì vẫn giống Lê Văn Đức.

Tóm lại: đã không có sự thống nhất giữa miền Bắc “xã hội chủ nghĩa“ và miền Nam “tiền đồn tự do” khi thích nghĩa hai chữ dạt/giạt.

Tác giả Otto Karow trong Vietnamesisch-Deutsches Wörterbuch không ghi chữ dạt, chỉ ghi chữ giạt đồng thời dẫn thành ngữ hoa trôi bèo giạt để chuyển dịch sang Đức ngữ.

Chữ Nôm viết hai chữ dạt giạt khác nhau. Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, tlđd, viết chữ dạt với sáu nét do ghép bộ thủ bên trái vào chữ dặc bên phải; trong khi chữ giạt, tám nét, được viết với bộ thủy bên trái và chữ thất bên phải.

Kết luận tạm thời 1: nếu căn cứ vào chữ Nôm gốc gác thì nên hiểu dạt không phải là giạt. Dạt xem như có phần thông dụng trong kỹ thuật chế tạo vải vóc, giạt xem như có phần thông dụng khi nói về tình trạng trôi nổi bồng bềnh.

Bây giờ xin chuyển qua dòng/giòng. Không có tự vị, từ điển, tự điển đơn ngữ Việt-Việt nào ghi chữ giòng mà tất cả đều thống nhất cùng ghi một chữ dòng mà thôi. Chỉ riêng Otto Karow ghi chữ giòng và chú là xem chữ dòng, nghĩa I và IV.

Trong thực tế, chúng ta có Thạch Lam với Theo giòng, Tú Mỡ với Giòng nước ngược, Nhất Linh với Giòng sông Thanh Thủy, Cao Văn Luận với Bên giòng lịch sử. Phải chăng chư vị đã viết sai chính tả tiếng Việt?

Thơ trào phúng của Tú Mỡ cũng dùng chữ giòng:

Ngày đêm cặm cụi ra công,

Giúp ông chúa động khơi giòng sông ngân.

Sự kiện dòng/giòng này đưa đến tình huống tựa đề bộ hồi ký của vị Linh mục cố Viện trưởng Viện Đại học Huế được “xử lý“ khá phức tạp:

–  Trần Trọng Đăng Đàn trong Văn hoá văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975 chủ động đổi thành Bên dòng lịch sử;

–  Võ Phiến trong Văn học miền Nam Tổng quan khi thì viết Bên giòng lịch sử [trang 155 (2 lần), các trang 244, 313, 335] khi thì viết Bên dòng lịch sử (trang 161)2.

Tập bình luận văn học của Thạch Lam cũng chịu chung số phận:

–  Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Từ điển Văn học, Tập II, N-Y, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội đều ghi là Theo giòng;

–  trong khi Từ điển Văn hoá Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh chủ biên, lại ghi là Theo dòng.

Kết luận tạm thời 2: có vẻ nên viết dòng, không nên viết giòng với lý do là hầu hết các tài liệu tham khảo (đôi khi ít nhiều mang tính quan phương) đều chỉ có chữ dòng mà không có chữ giòng.

21.03.2010

© 2010 Trần Văn Tích

From → Tiếng Việt

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: