Skip to content

Quy ước bỏ dấu

05/10/2008

Có nhiều quan điểm khác nhau về việc vị trí đặt dấu thanh, một trong các quan điểm đó như sau:

  1. Với các âm tiết [-tròn môi] (âm đệm /zero/) có âm chính là nguyên âm đơn: Đặt dấu thanh điệu vào vị trí của chữ cái biểu diễn cho âm chính đó. Ví dụ: á, tã, nhà, nhãn, gánh, ngáng…
  2. Với các âm tiết [+tròn môi] (âm đệm /w/, được biểu diễn bằng “o, u”) có âm chính là nguyên âm đơn thì cũng bỏ dấu thanh điệu vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: hoà, hoè, quỳ, quà, quờ, thuỷ, nguỵ, hoàn, quét, quát, quỵt, suýt…
  3. Với các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi:
    • Nếu là âm tiết [-khép] (nguyên âm được viết là: “iê, yê, uô, ươ”; âm cuối được viết bằng: “p, t, c, ch, m, n, ng, nh, o, u, i”) thì bỏ dấu lên chữ cái thứ hai trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: yếu, uốn, ườn, tiến, chuyến, muốn, mượn, thiện, thuộm, người, viếng, muống, cường…
    • Nếu là âm tiết [+khép] (nguyên âm được viết là: “ia, ya, ua, ưa”) thì nhất loạt bỏ dấu vào vị trí chữ cái thứ nhất trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: ỉa, tủa, cứa, thùa, khứa…
  4. Phân biệt vị trí đặt dấu thanh điệu ở tổ hợp “ua” và “ia”:
    • Với “ia” thì thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái “g” ở đầu âm tiết. Có “g” thì đặt vào “a” (già, giá, giả…), không có “g” thì đặt vào “i” (bịa, chìa, tía…). Trường hợp đặc biệt: “gịa” (có trong từ “giặt gịa” và đọc là zịa [ʐie6]).
    • Với “ua” thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái “q”. Có “q” thì đặt vào “a” (quán, quà, quạ…), không có “q” thì đặt vào “u” (túa, múa, chùa…). Hoặc để giản tiện cho việc làm bộ gõ, có thể coi “qu” như là một tổ hợp phụ âm đầu tương tự như “gi, nh, ng, ph, th”… Khi đó, sẽ coi “quán, quà, quạ”… như là những âm tiết có âm đệm /zero/.

Trong đời sống, hiện vẫn tồn tại hai cách đặt dấu thanh trong tiếng Việt. Ví dụ “hòa” là một cách đặt dấu thanh khác cho “hoà”, trong đó “hòa” còn gọi là cách đặt dấu thanh “cũ”. Bảng sau liệt kê các trường hợp mà hai cách đặt dấu thanh khác nhau:

Mới
òa, óa, ỏa, õa, ọa oà, oá, oả, oã, oạ
òe, óe, ỏe, õe, ọe oè, oé, oẻ, oẽ, oẹ
ùy, úy, ủy, ũy, ụy uỳ, uý, uỷ, uỹ, uỵ

Những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “mới” cho rằng vì oa, oe & uy phiên âm theo IPA là wa, we & wi nên phải bỏ dấu vào vần a, e và i tương đương.

Trong khi đó những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “cũ” thì cho rằng cách lí luận như trên là thiếu cơ sở vì IPA là để biểu thị cách phát âm chứ không phải biểu thị cách viết do đó không thể dùng để quyết định là cách bỏ dấu kiểu “mới” là đúng hơn. Thêm vào đó, IPA mới chỉ được phát triển vào cuối thế kỉ 19, trong khi chữ Quốc Ngữ đã được phát triển hoàn toàn độc lập và không ngừng thay đổi từ thế kỉ 17. Do đó, theo những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “cũ” việc dùng IPA để quyết định xem tiếng Việt phải bỏ dấu thế nào là bất hợp lí. Những người này còn cho rằng mặc dù IPA là phương pháp biểu thị cách phát âm phổ dụng nhất nhưng không có nghĩa là cách biểu thị cách phát âm duy nhất cũng như không phải là cách biểu thị cách phát âm chính xác nhất vì vậy không có lí gì lại sử dụng nó làm chuẩn để quyết định cách bỏ dấu tiếng Việt mà không phải là một trong các phương pháp biểu thị cách phát âm khác.

Hơn nữa, theo như những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “cũ” thì việc dùng IPA để quyết định cách tiếng Việt bỏ dấu là thiếu thống nhất vì lẽ IPA là phương pháp phiên âm quốc tế do đó nếu nó có thể áp dụng trong tiếng Việt để làm chuẩn mực cho vị trí bỏ dấu theo cách lí luận của những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “mới” thì cũng phải áp dụng được cho toàn bộ các ngôn ngữ khác trên thế giới. Tuy nhiên, cách lí luận đó lại không thể giải thích thỏa đáng việc tại sao chữ C trong tiếng Catalan (phiên âm IPA là /k/ hoặc /s/) lại có thể được bỏ dấu để trở thành Ç (phiên âm IPA là /s/). Những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “cũ” còn cho rằng lí luận như những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “mới” là sử dụng một số ngôn ngữ nhất định để làm chuẩn mực cho toàn bộ các ngôn ngữ khác bởi vì đúng là ở một số ngôn ngữ thì không thể bỏ dấu trên chữ w, nhưng ở một số ngôn ngữ (ví dụ như tiếng Wales thì chữ w hoàn toàn có thể được bỏ dấu), do đó, bỏ dấu kiểu “cũ” vẫn dựa chính xác theo cách phát âm.

Trên quan điểm ngôn ngữ là do con người tạo nên và luôn biến đổi theo nhu cầu của con người, những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “cũ” còn chỉ trích những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu “mới” là đang cố phức tạp hóa tiếng Việt, gây khó khăn không cần thiết nhất là trong giảng dạy học sinh tiểu học cũng như trong việc phát triển thuật toán và xử lí tiếng Việt trên máy vi tính. Họ còn cho rằng, thêm một quy tắc như trên không đem lại gì cho tiếng Việt nói chung và chữ Quốc Ngữ nói riêng do đó là hoàn toàn không cần thiết. Họ lấy dẫn chứng cho quan điểm của mình là việc chữ Quốc Ngữ từ khi được phát triển vào thế kỉ 17 đến nay đã trải qua rất nhiều thay đổi, bổ sung có và loại bỏ cũng có.

(trích http://vi.wikipedia.org/wiki)

Hiện tại, chương trình kiểm tra bỏ dấu theo quan điểm “cũ”, vì lý do thẩm mỹ.

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: