Skip to content

Chuyển về địa chỉ cũ

Sau một thời gian xây dựng, trang web được sử dụng cho công cụ được khôi phục lại ở địa chỉ cũ:

http://sites.google.com/site/vicheckspelling (vicheckspelling.googlepages.com).

Bạn ghé thăm trang chính thức này nhé. Cám ơn các bạn đã quan tâm đến tiếng Việt, cũng như chương trình.

 

Trân trọng.

Phiên bản 3.3 (QT) beta đã ra mắt

Một thời gian khá dài kể từ khi phiên bản 2.5 được ra mắt. Được “thai nghén” qua phiên bản nháp 3.0 (công nghệ Delphi – cùng công nghệ với phiên bản 2.5) nhưng không được phát triển tiếp vì các hạn chế nhất định, phiên bản 3.3 (QT) ra đời trên nền tảng hoàn toàn mới với các phiên bản cũ, dựa trên môi trường đa hệ điều hành của QT (Nokia).

Mã nguồn mở của dự án tại đây:

http://sourceforge.net/projects/vicheckcode/

Chương trình đang chuẩn bị bộ từ điển đồ sộ (trái tim của chương trình). Với hy vọng khi đạt số lượng từ vựng 100,000 từ, chương trình sẽ đạt mức độ “thông minh” cơ bản.

Xem đoạn phim minh họa ViCheckSpelling 3.3 (QT) với Google.

Minh họa cách sử dụng chương trình bằng phương pháp kéo – thả

Một số điểm thay đổi đáng kể so với phiên bản 2.5:

  • Cơ chế “kiểm tra kép” theo ngữ cảnh, cho độ chính xác cao hơn, đúng theo tinh thần ngôn ngữ tiếng Việt (một từ có thể được ghép lại từ nhiều tiếng).
  • Bộ từ điển được cập nhật đáng kể (hiện tại là 35,820 (tiếp tục cập nhật) từ – nguồn từ từ điển tiếng Việt mở trực tuyến, đóng góp của người sử dụng chương trình ViCheckSpelling 2.5 và được cập nhật liên tục từ năm 2007 đến nay).
  • Thêm nhiều tính năng sử dụng, cũng như cách từ được gợi ý.

Phiên bản 3.3 (QT) cải thiện tốc độ quét, tuy nhiên cũng mở rộng về chiều sâu quét ngữ nghĩa, do đó có thể yêu cầu hệ thống của bạn phải có tốc độ tương đối. Tuy nhiên, nếu máy tính của bạn không mạnh lắm, bạn có thể bỏ đi chế độ quét sâu trong phần “Tùy chọn”.

Mặc định, giao diện chương trình là tiếng Anh. Tuy nhiên, bạn có thể thiết lập lại với giao diện tiếng Việt, cũng trong phần “Tùy chọn” của chương trình.

Chương trình đã hoàn tất phiên bản thử nghiệm (beta) và đã được gởi đến những thành viên đã đăng kí phiên bản này. Hy vọng sẽ được các bạn ủng hộ cũng như góp ý để chương trình ngày một tốt hơn.

Trân trọng.

Lỗi chính tả trong văn bản tiếng Việt gấp 8 lần chuẩn

(Dân trí) – Tỷ lệ lỗi chính tả trung bình của văn bản tiếng Việt là 7,79%, cao gần 8 lần so với chuẩn 1%. Đáng nói, tỷ lệ lỗi khu vực Đại học và Viện nghiên cứu cũng xấp xỉ mức trung bình xã hội.

Báo cáo Tình hình chính tả văn bản tiếng Việt do Viện Công nghệ Thông tin –  ĐH Quốc gia Hà Nội và Công ty VieGrid công bố hôm qua (28/7) cho thấy, tỷ lệ lỗi chính tả trong văn bản tiếng Việt đã ở mức báo động, vượt quá cao so với tiêu chuẩn.

Cụ thể, trong tháng 6 vừa qua, nhóm nghiên cứu đã thống kê trên 67.000 mẫu của 177 đơn vị trong 7 khu vực, lựa chọn phương pháp thống kê với tập lỗi điển hình. Tập lỗi dùng để đánh giá trong đợt này được chọn từ một số lỗi phổ biến như: bổ xung, sử lý, xử dụng, sáng lạn, cọ sát, soi mói, thăm quan…

Kết quả, các từ có tỷ lệ lỗi cao nhất là “soi mói” với 74,33%, “sáng lạn” 41,66%, “cọ sát” 28,38%, “thăm quan” 20,61%… Đơn vị có nhiều lỗi nhất là Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm 38,46%, tiếp đến là Viện Năng lượng nguyên tử 31,49%. Đơn vị có ít lỗi nhất thuộc về ngành ngân hàng.

Khu vực báo chí và truyền thông có tỷ lệ lỗi chính tả cao nhất, gần mức báo động 10%. Trong đó, cả hai khu vực này đều có các đại diện có tỷ lệ lỗi gần hoặc vượt mức 30%. Khu vực chính quyền địa phương, và các cơ quan thuộc Bộ cũng có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao. Đặc biệt, có đơn vị có tỷ lệ lỗi gần 40% như Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ lỗi khu vực Đại học và Viện nghiên cứu cũng xấp xỉ mức trung bình của xã hội.

Trong khi đó, nhóm  khá nhất là doanh nghiệp và các Bộ có tỷ lệ lỗi 7,47- 19,98% vẫn bỏ xa mức chuẩn 1%.

TS Nguyễn Ái Việt, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, ĐH Quốc gia Hà Nội cho biết, trước khi đánh giá chất lượng chính tả văn bản tiếng Việt, nhóm nghiên cứu đã tiến hành một cuộc điều tra tại 2 nhóm Chuyên gia ngôn ngữ và Chuyên gia CNTT: Nhóm chuyên gia ngôn ngữ yêu cầu tỷ lệ lỗi chính tả trong văn bản Việt phải là dưới 1%. Nhóm chuyên gia CNTT chấp nhận tỷ lệ này trong khoảng 2,5-5%.

Các chuyên gia đều thống nhất cho rằng, tỷ lệ 10% là ngưỡng báo động đối với các lỗi chính tả và 30% là ngưỡng mà một lỗi chính tả đã trở thành một cách viết có thể đồng thời được chấp nhận. Theo đề nghị này, từ “soi mói” đã trở thành từ đúng với tỷ lệ sử dụng hơn 74%, “sáng lạn” có thể xem như một cách viết tương đương với “xán lạn” do đạt tỷ lệ sử dụng gần 42%. Các lỗi “cọ sát”, “thăm quan” đều đến mức báo động đỏ.

“Kết quả trên phản ánh tình trạng báo động của chính tả tiếng Việt. Nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành tiếp các đợt đánh giá tiếp theo với quy mô rộng hơn, nhằm mở đường cho một chiến dịch cộng đồng về quét lỗi chính tả”- TS Việt nói.

Theo GS, TS ngôn ngữ học Trần Trí Dõi, trong vòng 20 năm qua các Bộ, Ngành đã liên tiếp ban hành những quy định khác nhau về văn bản tiếng Việt. Ví dụ, 1/7/1983, Hội đồng “Chuẩn hóa chính tả” và “Hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ” đã ký chung một Quyết định có nội dung về “Những quy định về chính tả tiếng Việt”. Đến 5/3/1984 lại có thêm Quyết định 240/QĐ của Bộ Giáo dục Quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt. Đến năm 2002,  Bộ này lại có “Quy định tạm thời về chính tả trong sách giáo khoa mới” và 2003 có thêm “Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa”…Đến 6/2006 Bộ Nội vụ cũng đưa ra một “Dự thảo” về “Quy định về viết hoa và phiên chuyển tiếng nước ngoài trong văn bản” tiếng Việt nhằm dùng trong địa hạt hành chính…

GS Dõi cho rằng, không thể để mãi tình trạng thiếu thống nhất của các Bộ, Ngành trong quy chuẩn văn bản tiếng Việt như vậy. Đã đến lúc phải xây dựng Luật Ngôn ngữ có tính thống nhất và khoa học dùng để áp dụng chung trên toàn quốc.

P. Thanh

http://dantri.com.vn/c20/s20-411994/loi-chinh-ta-trong-van-ban-tieng-viet-gap-8-lan-chuan.htm

Nên dùng “dạt” hay “giạt” / “dòng” hay “giòng”?

Một bài viết khá hay của tác giả Trần Văn Tích, diễn đàn http://www.talawas.org/?p=17815

Vì tôi đầu têu ra chuyện nên dùng nhóm chữ “cộng đồng lưu vong” để chỉ một bộ phận tập thể đồng bào Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài thay vì gọi chung là “cộng đồng hải ngoại” nên đã có một số phản hồi thoạt đầu liên quan đến chữ “lưu vong” rồi chuyển qua “lưu lạc” để rồi đến cặp chữ “dạt/giạt”.

Theo một số quý vị “phản hồi gia” như Nguyễn Đình Đăng, Hoàng Ngọc-Tuấn thì viết dạt hay giạt cũng đều đúng. Ông Hoàng Ngọc-Tuấn còn trích dẫn tự điển của Viện Ngôn ngữ học. Phần tôi thì lại thấy dường như vấn đề chưa thể giải quyết gọn, nhẹ như vậy.

Giống như ông Hoàng Ngọc-Tuấn, tôi hiện có mấy cuốn tự vị, tự điển, từ điển đơn ngữ Việt-Việt. Vậy để bắt đầu, tôi xin dẫn các tự vị, tự điển, từ điển liên hệ.

Cuối thế kỷ XIX, năm 1895, Dictionnaire annamite-大南國音字彙 – Đại Nam Quấc âm Tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, Tome I, A-L, ghi cả hai chữ dạt và giạt:

– “Dạt. n. Dan ra, để nới ra, không cho chụm lại. – ra. Bỏ ra, để nới ra. – củi. Kéo củi ra để cho xa nhau; bớt củi bớt lửa. Bỏ –. Bỏ ra không dùng.“ (n = chữ nôm).

– Giạt. n. Bị sóng gió đưa ra, hoặc tấp vào. – vào bờ. Tấp vào bờ. – ra. Đưa ra, bỏ ra, để riêng ra. Bạt –. Trôi tấp, hoặc đưa vào chỗ nào. Giợt –. Nước da không sậm, nhứt là bị nước làm cho lợt màu.”

Từ năm 1931, Việt Nam Tự điển do Hội Khai trí Tiến đức khởi thảo đã gán cho hai chữ dạt/giạt hai nghĩa khác nhau: “Dạt: Thưa, giãn:Vải dạt, sợi dạt” và “Giạt: Bị sóng gió xô đẩy đi: Trời mưa giạt cả ao bèo. Thuyền bị sóng đánh giạt vào bờ. VĂN-LIỆU.- Hoa trôi, bèo giạt đã đành (K).” [(K) = Truyện Kiều].

Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, ấn bản 1977, không ghi chữ dạt, chỉ ghi chữ giạt: “GIẠT. – t. Bị xô vào một bên: Vải giạt; Bèogiạt.” (t. = tính từ).

Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ấn bản 1994, ghi “dạt1 cv. giạt. đg. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên do một tác động nào đó. Thuyền bị sóng đánh dạt vào bờ. Chạy dạt về một phía. Đám đông dạt ra nhường lối cho xe đi.” và “dạt2 đg. Dãn thưa ra (thường nói về sợi của hàng dệt). Vải mới giặt vài lần đã dạt.” (cv. = cũng viết, đg. = động từ). Đối với chữ giạt, Từ điển Hoàng Phê ghi: “giạt1 x. dạt1 và “giạt2 x. dạt2. (x. = xem).

Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt của Nguyễn Văn Đạm, ấn bản 1999, ghi “dạt đgt. Bị xô đẩy đi nơi khác một cách tự nhiên.Thuyền bị sóng dạt vào bờ.” (đgt = động từ) và “giạt tt. Xô vào một bên. Vải giạt sợi. Bèo giạt.” (tt. = tính từ).

Như vậy: 1) Các từ điển phát hành thời Pháp thuộc phân biệt dạt và giạt. 2) Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm hiểu chữ giạt giống nhau1; 3) Văn Tân không biết đến chữ dạt; 4) Hoàng Phê không phân biệt dạt/giạt, hai chữ viết cách nào cũng được.

Cả ba bộ từ điển vừa liệt kê đều do người miền Bắc biên soạn.

Tại miền Nam và trước năm 1975 có Việt-Nam Tự-điển do Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu biên soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính. Quyển Thượng A-L, ấn bản 1970, ghi “DẠT đt. Tải ra, banh rời ra, không để chồng-đống: Dạt củi, dạt đống cát // (R) tt. Thưa, lơi, không dày, không săn: Vải dạt, sợi dạt.” và “GIẠT tt. Tạt, lạc, trôi vất-vưởng, không phương-hướng: Thuyền giạt, bèo giạt hoa trôi.

Như vậy hai soạn giả miền Nam phân biệt rạch ròi giữa dạt và giạt: 1) về từ loại, dạt có thể là động từ mà cũng có thể là tính từ (đt, tt) còn giạt thì chỉ là tính từ mà thôi; 2) về ngữ nghĩa, dạt là tách rời ra còn giạt là trôi nổi. [(R) = nghĩa rộng].

Việt-ngữ Chánh-tả Tự-vị của Lê Ngọc Trụ ghi “Dạt (n) 1. nới ra; thưa mình : sợi –; vải –; 2. tãi ra, không cho chụm lại: – củi; 3. (tđ) dào-dạt; bạt” [(n) = tiếng nôm, tđ = tiếng đôi hoặc tiếng đệm] và “Giạt (n) 1. tạt, bị sóng gió đưa tạt đi : bạt giạt; trôi giạt. 2. con giạt sành cũng nói con “giọt sành”, con “sạt sành”. 3. (tđ) giợt-giạt.”

Như vậy Lê Ngọc Trụ chú giải thêm chi tiết theo đó cả hai chữ dạt/giạt đều là chữ Nôm nhưng về nội hàm ngữ nghĩa của hai chữ thì vẫn giống Lê Văn Đức.

Tóm lại: đã không có sự thống nhất giữa miền Bắc “xã hội chủ nghĩa“ và miền Nam “tiền đồn tự do” khi thích nghĩa hai chữ dạt/giạt.

Tác giả Otto Karow trong Vietnamesisch-Deutsches Wörterbuch không ghi chữ dạt, chỉ ghi chữ giạt đồng thời dẫn thành ngữ hoa trôi bèo giạt để chuyển dịch sang Đức ngữ.

Chữ Nôm viết hai chữ dạt giạt khác nhau. Đại Nam Quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, tlđd, viết chữ dạt với sáu nét do ghép bộ thủ bên trái vào chữ dặc bên phải; trong khi chữ giạt, tám nét, được viết với bộ thủy bên trái và chữ thất bên phải.

Kết luận tạm thời 1: nếu căn cứ vào chữ Nôm gốc gác thì nên hiểu dạt không phải là giạt. Dạt xem như có phần thông dụng trong kỹ thuật chế tạo vải vóc, giạt xem như có phần thông dụng khi nói về tình trạng trôi nổi bồng bềnh.

Bây giờ xin chuyển qua dòng/giòng. Không có tự vị, từ điển, tự điển đơn ngữ Việt-Việt nào ghi chữ giòng mà tất cả đều thống nhất cùng ghi một chữ dòng mà thôi. Chỉ riêng Otto Karow ghi chữ giòng và chú là xem chữ dòng, nghĩa I và IV.

Trong thực tế, chúng ta có Thạch Lam với Theo giòng, Tú Mỡ với Giòng nước ngược, Nhất Linh với Giòng sông Thanh Thủy, Cao Văn Luận với Bên giòng lịch sử. Phải chăng chư vị đã viết sai chính tả tiếng Việt?

Thơ trào phúng của Tú Mỡ cũng dùng chữ giòng:

Ngày đêm cặm cụi ra công,

Giúp ông chúa động khơi giòng sông ngân.

Sự kiện dòng/giòng này đưa đến tình huống tựa đề bộ hồi ký của vị Linh mục cố Viện trưởng Viện Đại học Huế được “xử lý“ khá phức tạp:

–  Trần Trọng Đăng Đàn trong Văn hoá văn nghệ Nam Việt Nam 1954-1975 chủ động đổi thành Bên dòng lịch sử;

–  Võ Phiến trong Văn học miền Nam Tổng quan khi thì viết Bên giòng lịch sử [trang 155 (2 lần), các trang 244, 313, 335] khi thì viết Bên dòng lịch sử (trang 161)2.

Tập bình luận văn học của Thạch Lam cũng chịu chung số phận:

–  Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, Từ điển Văn học, Tập II, N-Y, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội đều ghi là Theo giòng;

–  trong khi Từ điển Văn hoá Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh chủ biên, lại ghi là Theo dòng.

Kết luận tạm thời 2: có vẻ nên viết dòng, không nên viết giòng với lý do là hầu hết các tài liệu tham khảo (đôi khi ít nhiều mang tính quan phương) đều chỉ có chữ dòng mà không có chữ giòng.

21.03.2010

© 2010 Trần Văn Tích

Chính tả mỗi ngày

Một bài viết trên tờ báo điện tử:

http://vnexpress.net/GL/The-gioi/Cuoc-song-do-day/2010/05/3BA1BCF4/

Xiết

(Phương ngữ) được, nổi
nặng quá, hai người khiêng không xiết
(Văn chương) cho đến hết, đến cùng
mừng vui khôn xiết
nói sao cho xiết
đẹp không bút nào tả xiết
(Khẩu ngữ) xiết nợ (nói tắt)
bị xiết hết đồ đạc
(dòng nước) chảy rất mạnh và nhanh
dòng nước xiết
nước lũ chảy xiết
làm cho vừa chuyển động mạnh vừa áp thật sát trên bề mặt một vật khác
xiết lưỡi dao vào đá mài
dùng vỏ chai xiết đỗ xanh

Siết

làm cho ôm giữ lấy thật chặt
siết dây thòng lọng
siết chặt đinh ốc
nắm lại hoặc ôm lấy cho thật chặt
ôm siết con vào lòng
cái siết tay thật chặt

Khắc thơ sai chính tả trong ngày thơ VN

Ngày thơ VN 2010, một hoạt động được ví như “đại lễ hội thơ ca” đã thực sự thu hút đông đảo khách thơ tại Hà Nội. Hàng ngàn người yêu thơ cả trong và ngoài nước đã có mặt tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám trong sáng qua, 28-2, để thưởng thức những vần thơ hay. Ban tổ chức đã đãi khách thơ bằng một bữa tiệc với đủ các món: thơ ngâm, thơ phổ nhạc, thơ truyền thống, thơ trình diễn, thơ sắp đặt, câu đối, triển lãm thơ trên gốm…

Trước khi đến với những sân thơ chính, khách thơ có dịp thưởng lãm những câu thơ đặc sắc in trên 550 tác phẩm gốm trong khuôn khổ triển lãm Thơ in trên gốm đặt xung quanh giếng Thiên Quang.

Không ít khách thơ bỗng giật mình vì thơ bị “sửa vô tư” bởi các nghệ nhân gốm. Hai câu thơ đẹp của nhà thơ Chính Hữu: Hà Nội đêm buốt tê/ Mái buồn nghe sấu rụng đã bị sửa thành “xấu rụng”. Thơ Lưu Trọng Lư: “Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội/ Áo đỏ người đưa trước giậu phơi” thành “ao đỏ”…

Được chờ đợi và hứa hẹn sự sáng tạo nhiều nhất là sân thơ trẻ với ba nội dung thơ: sắp đặt, truyền thống và trình diễn. Tuy nhiên, các nhà thơ trẻ đã không thực sự thu hút được khách thơ, nếu không muốn nói là sân thơ trẻ năm nay tẻ nhạt hơn năm trước nhiều.

Tranh thủ sự đông vui của hội thơ, rất nhiều nhà sách nhanh nhạy kê những bàn sách phục vụ khách thơ. Chỉ tiếc, thơ thì ít mà sách không liên quan đến thơ như cẩm nang mang thai và sinh con, chăm sóc nuôi dạy con cái, sách phong thủy, lễ tục vòng đời… thì nhiều!

Nguồn: http://www.nld.com.vn

Trắc nghiệm mỗi ngày

Cám dỗ
khêu gợi lòng ham muốn đến mức làm cho sa ngã
không cưỡng được sức cám dỗ của đồng tiền